Khoa Môi trường
GIỚI THIỆU

Khoa Môi trường tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên được thành lập ngày 18 tháng 01 năm 2000 theo quyết định (số 14/QĐ/ĐHQG/TCCB) của Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng những vấn đề môi trường phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Sự ra đời Khoa Môi trường đánh dấu một mốc quan trọng trong việc đào tạo cán bộ khoa học cơ bản về Môi trường phù hợp với xu thế của Thế giới, đồng thời cũng là một mốc lớn trong việc đa dạng ngành đào tạo của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, một trong những cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản lớn của Việt Nam.

TỔ CHỨC KHOA

+Đội ngũ cán bộ giảng dạy

Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa cũng không ngừng được phát triển cả về số lượng lẫn chất.

Hiện nay, Khoa có 59 cán bộ, trong đó gồm: 02 Phó Giáo sư, 06 Tiến sĩ, 15 Nghiên cứu sinh và 17 Thạc sỹ. Hiện có 02 Tiến sĩ đang thực tập nâng cao, 10 Nghiên cứu sinh tại các trường Đại học nước ngoài, 03 Nghiên cứu sinh trong nước.

Ngoài ra, hằng năm, Khoa có từ 03 đến 04 Học viên Cao học được cử đi đào tạo các khóa ngắn hạn (từ 3 đến 6 tháng) tại các trường Đại học ở nước ngoài.

+Cơ sở vật chất:

Khoa hiện có 03 phòng thí nghiệm (PTN) phục vụ đào tạo và nghiên khoa học cho sinh viên bậc đại học và sau đại học:

1) PTN Phân tích môi trường;

2) PTN Tin học môi trường;

3) PTN Công nghệ Môi trường.

CÔNG TÁC ĐÀO TẠO

Khoa Môi trường đã có hệ thống chuyên ngành cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác đào tạo và giải quyết những vấn đề môi trường mà xã hội đang phải đối mặt. Hiện nay, Khoa Môi trường được tổ chức thành 4 bộ môn:

1) Khoa học Môi trường;

2) Quản lý Môi trường;

3) Tin Học Môi trường;

4) Công nghệ Môi trường.

Chương trình đào tạo tại Khoa Môi trường có sự liên thông giữa bậc Đại học và Sau đại học (Thạc sĩ và Tiến sĩ) gồm các chuyên ngành mà thực tế đang có nhu cầu.

Bậc Đại học có hai ngành đào tạo: Khoa học Môi trường và Công nghệ Môi trường, gồm 7 chuyên ngành: (1) Khoa học Môi trường, (2) Quản lý Môi trường, (3) Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường, (4) Môi trường và Tài nguyên Biển, (5) Tin học Môi trường, (6) Công nghệ Môi trường Nước và đất, (7) Công nghệ Môi trường Khí và xử lý chất thải.

Bậc Sau đại học: Thạc sỹ gồm 02 chuyên ngành: (1) Khoa học Môi trường và (2) Quản lý Môi trường.

Tiến sỹ gồm 02 chuyên ngành: (1) Môi trường Đất và Nước và (2) Quản lý tổng hợp đới bờ.

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Những nghiên cứu cơ bản của Khoa trong những năm qua tập trung vào việc đánh giá các tai biến tự nhiên, quan trắc chất lượng môi trường nước, không khí, đất tại những vùng địa lý khác nhau. Những kỹ thuật mới trong nghiên cứu môi trường như Viễn thám, Hệ thống thông tin địa lý, Mô hình hóa môi trường cũng được triển khai nghiên cứu và đưa vào đào tạo rất sớm tại Khoa. Đặc biệt là những đề tài liên quan đến biến đổi khí hậu như: nghiên cứu những tai biến tự nhiên ven biển và đảo, quản lý tổng hợp đới bờ, quản lý tài nguyên nước, bảo tồn đa dạng địa học, đánh giá tính dễ bị tổn thương cộng đồng trong điều kiện mực nước biển dâng…

Từ năm 2007, ngành Công nghệ Môi trường mở ra đào tạo các cử nhân công nghệ môi trường có năng lực nghiên cứu, thiết kế, vận hành và quản lý các hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường mở thêm các hướng nghiên cứu về các quá trình xử lý vật lý, hóa học và sinh học xử lý ô nhiễm môi trường nước và đất, các quá trình xử lý vật lý, hóa học và sinh học xử lý ô nhiễm môi trường không khí và chất thải rắn, và phân tích môi trường.

HỢP TÁC QUỐC TẾ

Công tác hợp tác quốc tế được Khoa Môi trường quan tâm ngay từ những ngày đầu thành lập. Trong những năm gần đây công tác này được đẩy mạnh hơn, các hướng hợp tác được mở rộng và đa dạng bao gồm việc giới thiệu cán bộ đi đào tạo; hợp tác đào tạo và nghiên cứu với một số Khoa môi trường Đại học nước ngoài; cử cán bộ đi tham gia hội nghị khoa học quốc tế để tiếp cận những hướng nghiên cứu mới mà thế giới đang quan tâm; tạo điều kiện cho các thầy cô trẻ tham gia các khóa học chuyên đề ngắn hạn để họ làm quen với môi trường nghiên cứu khoa học ở các nước tiên tiến.

Một số trường có ký kết hơp tác với Khoa:

- Osaka Prefecture University, Japan

- Environmental Faculty, Nagoya University

- Duke University, USA

- Asian Institute of Technology

- NCU, Taiwan

- NCTU, Taiwan

- Tongji University, China

Sự hợp tác quốc tế đã đem lại những kết quả tốt phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, nhiều tài liệu về phương pháp đào tạo và nghiên cứu khoa học được bổ sung, các cán bộ trong Khoa có thêm những kinh nghiệm trong giảng dạy.

CƠ HỘI NGHỀ NGHIỆP VÀ VIỆC LÀM

Sau khi tốt nghiệp, cử nhân ngành Khoa học Môi trường có khả năng nhận công tác ở các cơ sở sau: các Viện, các Trung tâm nghiên cứu liên quan đến môi trường tự nhiên; môi trường kinh tế-xã hội và môi trường nhân tạo; các cơ quan quản lý môi trường các cấp từ trung ương đến địa phương;

Hoặc làm việc tại các công ty và doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khai thác và sử dụng  tài nguyên thiên nhiên;

Tham gia các dự án quốc gia và quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, qui hoạch môi trường, đánh giá tác động môi trường;

Giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, phổ thông.

 Sau khi tốt nghiệp, các cử nhân ngành Công nghệ Môi trường có khả năng nhận công tác ở các cơ sở: các Sở (Ban, ngành) Tài nguyên-Môi trường ở các địa phương;

Làm việc tại các Viện, các dự án liên quan đến nghiên cứu qui trình công nghệ và xử lý môi trường; các phòng thí nghiệm phân tích môi trường và công nghệ môi trường;; các công ty về xử lý môi trường, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực môi trường;

Giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, phổ thông.

Các cử nhân ngành Công nghệ Môi trường cũng có thể tiếp tục học tập và nghiên cứu nâng cao trong các chương trình Thạc sĩ, Tiến sĩ tại Khoa Môi trường.

 Số tín chỉ tốt nghiệp và tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp hàng năm

Khóa

Số SV đầu vào

Số SV đầu ra

Tỷ lệ SV đầu ra (%)

2000

102

88

86.3

2001

137

118

86.1

2002

144

118

81.9

2003

135

116

85.9

2004

127

105

82.7

2005

141

83

58.9

2006

95

82

86.3

2007

200

154

77.0

Về đầu trang